Hướng Dẫn Sử Dụng Tâm Mình

Tuần 2 · còn ~18 phút

Tạ Minh Tuấn

Tuần 2

Khai tâm: Thiền Định và Thiền Tuệ Thiền Thức Tỉnh bước 1: Định tâm Trên hành trình "Thức Tỉnh Trong 7 Tuần", chúng ta chia sẻ với nhau không gì hơn ngoài sự thật.

Sau tuần đầu tiên, những sự thật quan trọng bắt đầu được hé lộ…

Bạn đã biết chúng ta đến Trái Đất vì điều gì? Bạn đã biết mục đích tối thượng của tất cả mọi mục đích? Bạn cũng đã biết Covid dạy cho con người bài học gì? Chính là sự cộng hưởng giữa con người với con vật, khi con người vẫn còn nhiều nhu cầu bản năng giống với con vật vẫn chưa được chuyển hoá hoàn toàn… Một ai đó ăn một loài vật nào đó cũng có thể cộng hưởng với những biến dạng tiêu cực này và bị lây lan Virus từ đó. Ở cấp độ vô hình, sự "lây lan" có thể diễn ra vi tế hơn, tâm thức con người do vẫn còn những biến dạng của loài vật nên đã cùng nhau "đồng sáng tạo" ra Virus có tên là Covid. Bệnh tật luôn là một thông điệp sâu sắc giúp một người biết được bên trong mình có những ký ức gì. Những ký ức đó là nguồn gốc của bệnh tật. Tương tự, Covid là một dấu hiệu sâu sắc giúp nhân loại biết được bên trong ký ức tập thể của mình vẫn còn những biến dạng gì. Vì thế đó cũng là bài học, để nhận thức, và tiến hoá. Ta có thể nhận ra và tiến hoá thông qua hành thiền. Chỉ có con người mới biết thiền. Do đó, thiền là điều cần thiết để ta nhận ra bài học. Thiền giúp bạn tiến hóa hơn.

Cơ chế của việc thiền là gì? Đó chính là chuyển nghiệp. Nghiệp là những bài học bạn chưa học được. Vì chưa học được nên bạn tiếp tục tái phạm. Bài học sẽ quay trở lại với bạn, lặp lại với bạn. Khi thiền, bạn thực sự hiểu được bài học của mình, nhờ vậy mà không gặp lại bài học cũ. Từ đó, nghiệp được thanh tẩy, hay còn gọi là chuyển hóa nghiệp. Chúng ta sẽ ngày càng khám phá sâu sắc hơn về điều này trong quá trình thực hành Thiền Thức Tỉnh.

Ta cần hiểu ý nghĩa của việc thiền trước khi bắt đầu đi sâu hơn vào các bước. Ta hiểu rằng việc thiền là quan trọng, nhưng không dính mắc vào nó. Chúng ta đọc rất nhiều sách, học rất nhiều thứ và nghĩ rằng mình "biết", nhưng bạn không thực sự "biết". Nếu không thiền, ta không thực sự "tận biết".

Bạn có thể đọc cuốn "Bách khoa toàn thư" để hiểu nghĩa của từ "chua": "Chua là gì?" , "Trên thế giới này, người ta ăn chua như thế nào?" , "Chua có vị ra sao?" , "Khi ăn chua, người ta có bị loét dạ dày không?" Nhưng, bạn vẫn chẳng biết gì về chua. Cho đến khi bạn cầm một quả chanh lên, lấy dao cắt ra 1 lát, rồi bỏ vào miệng, ngậm lại. Khi đó, bạn mới thực sự biết thế nào là chua. Đó chính là thiền.

Thiền nghĩa là chứng nghiệm. Khi đã biết, bạn không cần phải tin nữa. Niềm tin rất quan trọng trong thế giới này. Chúng ta cần có niềm tin trước khi thực sự biết. Nhưng khi đã biết, bạn không cần phải tin nữa. Cũng thế, bạn chưa biết vì chưa có trải nghiệm cá nhân, vì bạn chưa thiền. Do chưa biết, người ta mới tranh luận với nhau về kinh điển: "Như thế này mới là ý Phật", "Như thế này mới đúng ý Chúa". Khi đó, con người chia ra nhiều tông phái để tranh luận với nhau trên bình diện kiến thức đơn thuần. Ta có những niềm tin. Và chúng ta tranh luận với nhau về những niềm tin đó. Như ví dụ về chua, có người sẽ nói "Khi chua thì mặt bạn sẽ đỏ lên", có người lại nói "Khi chua thì mặt không đỏ, nhưng lưỡi của bạn sẽ lè ra". Hai bên trở thành hai tông phái, không ai chịu nhường ai, mỗi bên đều cho rằng chỉ có mình mới đang nắm giữ chân lý. Sự thật là: Chỉ đến khi bạn cầm lát chanh lên và nếm thử, bạn sẽ biết chua là gì. Khi đó, bạn nhìn hai người đang tranh cãi, nhưng trong tâm bạn không bị "cuốn" theo họ. Lúc này, bạn bình an, vì bạn biết sự thật là gì, vì bạn đã thực chứng. Bạn không còn phải tin "chua là gì", vì bạn đã biết chua thực sự như thế nào. Đó là thiền.

Người đã thiền rồi, không còn là một học giả, họ là hành giả. Họ không tranh luận vì niềm tin nữa, họ đã biết. Đó là thiền. Và, chúng ta – cùng nhau, thực hành thiền.

Có nhiều loại thiền, do đó, chúng ta cần có sự tỉnh thức trước khi bắt đầu thực hành. Nếu chúng ta thực hiện một lát cắt theo chiều dọc, chia ra thành hai nhóm – tương ứng có hai loại thiền.

Một loại là thiền của Phật Pháp, còn một loại là thiền khác, mà thiền năng lượng cũng chỉ là một phần bên con đường này. Nếu chúng ta thường đọc nhiều bài viết về tâm linh/tôn giáo, chắc hẳn ta từng nghe có quan điểm cho rằng "thiền của Phật Pháp" mới là thiền chánh pháp, còn "thiền năng lượng" là thiền ngoại đạo. Khi đó, bạn cần trung dung, để hiểu rằng, từ "ngoại đạo" nghĩa là "ngoài Phật Pháp", không phải là "tà pháp". Vì thiền năng lượng có những giá trị riêng.

Những giảng dạy của Đức Phật thời đó rất khác biệt. Ngài đã cố tình loại bỏ những điều liên quan đến năng lượng, linh hồn trong những giảng dạy của mình. Một trong những ngộ nhận lớn nhất của đệ tử thời sau, đó là "Đức Phật khẳng định không có linh hồn". Nếu tìm trong mọi kinh điển của Phật Pháp, chưa hề có một câu nào của Đức Phật khẳng định điều này. Sự thật là, có 14 câu hỏi mà Đức Phật không bao giờ trả lời. Trong số 14 câu hỏi đó, có những câu hỏi về linh hồn. "Linh hồn có tồn tại không?" , khi được hỏi, Đức Phật chỉ im lặng và không trả lời. Một con người rõ ràng như Đức Phật, với Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo – những chỉ dẫn rất sáng tỏ, cụ thể, và rõ ràng về cái gì "Có", cái gì "Không". Nhưng vì sao ông ấy không khẳng định "Có linh hồn" hay "Không có linh hồn"? Bởi vì Đức Phật muốn chúng ta hãy thiền và tự trải nghiệm điều đó! Đó là một phương diện không thể dùng ngôn ngữ, lời nói để tranh luận, điều đó không có ý nghĩa gì cả. Đức Phật muốn ta thiền và chứng nghiệm "Có linh hồn hay không?" Vì linh hồn cũng chỉ là một dạng năng lượng mà thôi. Vì thế, ta không nên xem thiền năng lượng là tà pháp. Đó chỉ đơn giản là một loại thiền khác. Hãy nhớ rằng, thiền, hay thiền năng lượng, đã có từ lâu, từ trước cả thời của Đức Phật.

Đó là một lát cắt theo chiều dọc. Nếu ta thực hiện một lát cắt theo chiều ngang, ta sẽ chia làm 2 tầng thiền, tương ứng với 2 loại thiền. Loại thiền thứ nhất là "thiền định", loại thiền thứ hai là "thiền tuệ". Có thể, chúng ta đã từng nghe về "thiền chỉ" và "thiền quán". "Thiền chỉ" là tập trung vào một điểm để định tâm. "Thiền quán" là quan sát, suy ngẫm, quán từng chủ đề để nảy sinh trí tuệ. Trong quyển sách này, ta gọi đó là "thiền định" và "thiền tuệ". Ta cần hiểu rõ hai khái niệm này để biết khi nào là "định" và khi nào là "tuệ".

Thiền định là định tâm. Ví dụ, trong một ly nước, có rất nhiều cặn bẩn bị khuấy lên. Con người trong đời sống cũng giống như ly nước bẩn đó, bị rất nhiều áp lực, rất nhiều yếu tố xô bồ, từ công việc, gia đình và xã hội… Ly nước bẩn bị khuấy thì không thể nào thanh lọc được. Ta không thể nào vứt bỏ ly nước ấy, nhưng ta có thể làm cho ly nước tĩnh lặng, bằng cách không khuấy nó lên nữa. Khi định tĩnh, cặn bẩn sẽ nằm dưới đáy ly, phần nước trong sẽ nằm ở trên. Khi đó, ta sẽ phân tách được phần cặn bẩn và phần nước trong. "Định" chính là như thế.

Định tâm là để những ký ức, tiêu cực, nghiệp quả trong tâm được "lắng xuống". Khi ấy, phần bản thể thuần khiết – ánh sáng, tình yêu, niềm vui, ngẫu hứng, hạnh phúc – giống như phần nước trong, được phân tách ra khỏi "những cặn bẩn". Thông thường, "nước trong" và "cặn bẩn" hòa vào nhau. Cũng thế, con người là tổng hòa của những điều tốt và những điều xấu. Có lúc ta rất tốt, nhưng cũng có lúc ta trở nên sân hận, giận dữ, như quát mắng con, la hét với người khác… sau đó, lại hối hận về việc mình vừa làm. Bởi vì lúc ấy, "ly nước" của bạn đã không còn trong nữa. Bạn là tổng hòa của rất nhiều ký ức tiêu cực trong quá khứ, là tổng hòa của những ký ức tiêu cực của gia đình bạn, dòng họ bạn, thậm chí là dân tộc, quốc gia của bạn, hay rộng hơn, đó là của nhân loại, của loài người, với một tỷ lệ nào đó, bên trong bạn. Thiền định giúp phân tách hai lớp: Lớp trong suốt là bản thể thuần khiết, lớp lắng xuống là lớp ký ức, bao gồm cả những ký ức tiêu cực. Đó chính là ý nghĩa của thiền định – định tâm.

Vậy cơ chế là gì? Khi chúng ta thiền định, những suy nghĩ bên trong bắt đầu lắng đọng xuống, cũng giống phần cặn bẩn trong ly nước. Tại sao điều này lại quan trọng? Bình thường, trong đầu ta có quá nhiều suy nghĩ. Những người trầm cảm chính là những người đã tích lũy quá nhiều suy nghĩ theo thời gian, và không có cơ chế để xả bỏ chúng. Họ không thể trò chuyện, lắng nghe, tâm sự với người khác, để từ đó có thể rũ bỏ hết những suy nghĩ, vấn vương, vướng mắc trong lòng mình. Tất cả những suy nghĩ đó rất tiêu cực, được tích lũy rất nhiều qua thời gian, thành một khối trầm cảm. Điều đó khiến cho người trầm cảm rất khổ sở, họ mất ngủ, mông lung, vô định, bất an, lo lắng, tiêu cực, sợ hãi. Nếu như, bạn hỏi một chú cá rằng: "Này, bạn có biết gì về "nước" không?" Có thể, cá là sinh vật cuối cùng trên địa cầu này biết đến sự tồn tại của nước! Vì sao? Vì cá sinh sống trong nước, nên với cá, "nước" là một điều vô cùng hiển nhiên.

Suy nghĩ của chúng ta cũng thế. Bình thường, ta có quá nhiều suy nghĩ, mà chúng ta không nhận ra. Cũng giống như cá, bơi trong nước, nhưng không biết đó là nước. Trong đầu bạn là "đại dương" của những suy nghĩ, nhưng bạn không nhận ra, không quan sát, không để ý đến chúng. Những suy nghĩ này cứ đến rồi đi, "chuyền" từ cành này sang cành khác (như con khỉ chuyền cành), không theo một logic nào cả. Bạn hãy thử viết ra một suy nghĩ lúc này của mình xem. Vào lúc này, bạn đang nghĩ gì vậy? Nếu như bạn thấy rằng "Lúc này tôi không suy nghĩ gì cả", thì đó cũng… chính là một suy nghĩ.

Những suy nghĩ của chúng ta không có đầu, cũng không có đuôi. Bạn có biết định nghĩa một người tâm thần là như thế nào không? Nếu như bạn viết ra hết những suy nghĩ trong đầu của mình, và đưa một người khác đọc. Họ sẽ tưởng đây là những suy nghĩ của một người bị tâm thần. Vì sao vậy? Vì những suy nghĩ này không theo một thứ tự A, B, C, D… gì cả, mà chúng chồng chéo, mâu thuẫn, zíc zắc, và không ăn nhập với nhau. Chúng ta điên rồ nhiều hơn chúng ta tưởng!

Có rất nhiều người đang gặp vấn đề về tâm lý, nhưng họ không nhận ra đấy thôi. Họ vẫn tỏ ra "Tôi ổn" ở bề ngoài, trong cuộc sống và trong công việc. Cho nên, ta cần có một phương pháp làm lắng đọng những suy nghĩ của mình xuống. Phương pháp đó chính là thiền định. Khi thiền định, ta mượn "một đối tượng" để định tâm vào. Bình thường, tâm ta trôi lung tung, muốn nghĩ gì thì nghĩ, ta cho rằng suy nghĩ đó là "của mình". Vậy nếu suy nghĩ đó là "của bạn", bạn hãy dừng suy nghĩ đó lại. Bạn có thể dừng suy nghĩ của mình được không? Vậy thì suy nghĩ có thật sự là "của bạn" hay không? Tại sao bạn lại đồng hóa mình với suy nghĩ đó?

Để tâm không trôi lung tung, ta mượn một đối tượng để định tâm lại. Khi ấy, tâm sẽ bớt đi những suy nghĩ. Bạn sẽ chứng nghiệm ra một điều: những suy nghĩ sẽ lắng đọng từ từ, đến một lúc nào đó, nó sẽ biến mất. Khi suy nghĩ biến mất, bạn sẽ cảm nhận được sự nhẹ nhõm ở trong tâm trí, hay sự trong suốt, sự trống không. Cũng có người cảm nhận được ánh sáng ở khu vực trán - nơi "con mắt thứ ba" hiện diện. Dù bạn cảm nhận được hay không, vẫn tốt thôi, bạn đừng dính mắc vào những điều đó. Điều quan trọng là: Khi suy nghĩ lắng đọng xuống, sẽ đến lúc nó biến mất, khi đó bạn cảm nhận được sự nhẹ nhõm…

Những người trầm cảm đã tích lũy quá nhiều những suy nghĩ và ký ức tiêu cực mà không thể "thanh tẩy" hay buông bỏ được. Khi thực hành phương pháp này, sẽ giúp họ lắng đọng những suy nghĩ đó. Khi chúng biến mất thì họ sẽ không còn dính mắc vào quá khứ, không còn lo lắng về tương lai. Họ sống ở hiện tại, ngủ ngon hơn, sống bình yên và hạnh phúc hơn. Đó chính là cơ chế của thiền định tâm.

Hãy lưu ý rằng, đừng bao giờ kỳ vọng suy nghĩ sẽ biến mất mãi mãi. Suy nghĩ lắng đọng, biến mất, rồi sẽ quay trở lại, kể cả đối với những người thiền sư lỗi lạc nhất. Thiền định tâm chỉ làm cho những suy nghĩ lắng xuống, nhưng những suy nghĩ "đáng ghét" sẽ lại "trồi lên". Bạn bắt đầu bực mình, chán ghét, phán xét bản thân, chỉ vì suy nghĩ quay lại. Bạn có thể phản ứng chống lại, kiểu như: "Ta không cần mi đến với cuộc đời ta nữa", "Những suy nghĩ đáng ghét kia hãy tránh xa ta ra"… Khi đó, bên trong bạn sẽ sinh ra sự sân hận. Không chỉ "tham" mới dính mắc, mà "sân" cũng khiến bạn dính mắc. Khi đó, tâm dính mắc với suy nghĩ sân hận và bạn lại trở thành nô lệ của nó. Vì nó đã thao túng, chi phối, điều khiển bạn. Bạn đã sinh ra sự dính mắc với nó. Bạn tìm cách để "fighting" (chiến đấu) với suy nghĩ đó. Nhưng, đó không phải là cách chúng ta hành xử. Thiền – nghĩa là – bất bạo động. Chúng ta không phản ứng một cách vô minh, thiếu trí tuệ, "manh động". Thiền – là lựa chọn phản ứng của mình một cách có trí tuệ, có "minh", phản ứng bất bạo động. Đó là triết lý của thiền.

Cho nên, khi thấy một suy nghĩ xuất hiện, bạn chỉ đơn giản "nhận ra" nó. Hay một cách diễn giải khác là "quán" nó ("quán" nghĩa là "quan sát"). Khi nhận ra, bạn cho nó "đi". Bạn không cần phản ứng với nó. Giống như bản tin trên tivi, cứ đến, rồi đi. Vậy cách tốt nhất để cho nó đi là gì? Đó là hãy tiếp tục quay lại tập trung vào một đối tượng để định tâm. Khi nhận ra mình có suy nghĩ, bạn đã giải quyết được 50% vấn đề. Quan trọng là, bạn đã không nhận ra!

Khi thực hành, bạn sẽ thấy, rồi một suy nghĩ nào đó sẽ xuất hiện, dẫn bạn đi từ chỗ này đến chỗ kia. Khi càng thiền, bạn sẽ càng tỉnh giác, và nhận ra nhanh hơn. Suy nghĩ vừa đến, bạn nhận ra ngay. Như thế, khi nhận ra, bạn đã giải quyết được 50% vấn đề, 50% còn lại, bạn tiếp tục quan sát đối tượng định tâm. Khi tâm tập trung vào đối tượng, thì sẽ không còn suy nghĩ. Bạn hãy tiếp tục thiền để trải nghiệm những lợi lạc với tâm trong suốt, thuần khiết như thế. Rồi suy nghĩ lại xuất hiện, bạn tiếp tục nhận ra nó, nhưng hãy "bất bạo động", hãy cho nó đi, bằng cách tập trung vào một đối tượng định tâm. Và cứ như thế, lặp đi lặp lại quá trình này… Khi thiền càng giỏi, kéo dài được khoảng thời gian tâm trong suốt, bạn càng nhận được nhiều lợi lạc. Khi quá nhiều suy nghĩ xuất hiện cùng một lúc, chúng khiến bạn không hạnh phúc. Bạn uống một ly nước, nhưng trong đầu bạn nghĩ hết chuyện này đến chuyện kia. Bạn uống nước, nhưng đầu óc cứ nghĩ mãi, hối tiếc về chuyện quá khứ, và lo lắng đến chuyện tương lai. Bạn không thể hạnh phúc với một lối sống như vậy! Khi bạn thiền định tâm, làm lắng đọng suy nghĩ, đến khi chúng biến mất, bạn hoàn toàn trong suốt. Lúc ấy, bạn sẽ phát hiện ra, bên trong mình chính là chân phúc (hạnh phúc chân chánh, hạnh phúc đích thực). Khi suy nghĩ biến mất, chân phúc sẽ xuất hiện – một cách tự nhiên. Sự bình an cũng tự nhiên đến. Đó chính là lợi lạc của việc định tâm.

Điều này giải thích vì sao thiền định tâm có thể hỗ trợ điều trị được một số căn bệnh như trầm cảm. Đó chính là một điều tuyệt vời!

Chúng ta cần hiểu rằng định tâm là bước đầu tiên trong thiền định. Nhưng thiền định chỉ mới phân tách "nước trong" và "cặn bẩn", như thế có đủ không? Những thứ khiến ta không hạnh phúc - "cặn bẩn" - vẫn còn đang ở đó. Để rồi, khi "sóng gió", nghịch cảnh, thử thách đến, như lời chỉ trích của sếp, giọng điệu phàn nàn của vợ… thì ly nước tiếp tục bị khuấy lên. Khi đó, ta tiếp tục có những "tập khí" – lối hành xử cũ. Ta lại nóng giận, đánh đập con cái, tìm đến những chất say nghiện để quên đi thực tại… Vì "nó" (cặn bẩn) vẫn còn ở đó, nó chưa thực sự biến mất. Do đó, ta cần một thêm một tầng thiền – "thiền tuệ".

Ta không chỉ định tâm, mà còn thanh lọc tâm, để chuyển hóa tất cả những tiêu cực, những nghiệp quả, tích hợp những bài học mà ta chưa nhận ra. Thiền tuệ giúp ta chuyển hóa những điều tiêu cực thành ánh sáng, thành tình yêu, thành "một ly nước trong suốt", thành một vị Phật. Bởi vì, vị Phật là người đã chuyển hóa 100% những ký ức, hoàn thành 100% bài học, tích hợp được 360 độ (toàn giác) những phẩm chất, đức tính cần thiết. Đó chính là con đường của thiền.

Dừng lại một nhịp

Điều gì trong chương này đang chạm đến bạn? Hãy ngồi yên và để nó lắng xuống.

Thắp nến ánh sáng