Tạ Minh Tuấn
CHƯƠNG III: HÃY TRỞ THÀNH VỊ THẦY. (tiếp 4)
25 thế kỷ đã qua. Linh hồn đã bị quên lãng. Con người đã đánh mất bản chất của mình. Họ đã quên mất mình là ai. Pháp thời nay lại phải thuyết khác. Phải học và hiểu về linh hồn. Phủ nhận linh hồn sẽ gây ra những hậu quả. Vì khi đó sẽ không nhìn thấy được bức tranh lớn hơn, có thể sẽ không thực sự có lòng trắc ẩn. Bởi vì, linh hồn chính là tình yêu, phủ nhận linh hồn là phủ nhận tình yêu thực sự. Bạn sẽ hiểu điều này sâu sắc hơn ở hành trình sau này của mình. Thật ra, nếu không hiểu những trí tuệ này, ta sẽ không lý giải được rất nhiều điều của vũ trụ vô thủy vô chung. Khi đó, có thể càng Tu lại càng thêm bảo thủ, phán xét, và cố chấp. Khi tu tập, ta thoát ra cái "Chấp Có", vì buông xả được những cái "Có" tức là những "vật ngoài thân", đi đến vô ngã. Nhưng, ra khỏi cái "Chấp Có" rồi, ta lại rơi vào cái "Chấp Không". Bây giờ, ai còn "Có" thì ta đều xem là không tốt, mà phải "Không" như ta mới là tốt. Có phải cũng là một loại dính mắc khác không? Dính mắc vào cái "Không". Phủ nhận hết tất cả, cho rằng tất cả đều "Không", kể cả linh hồn cũng "Không". Trong khi, nếu như vượt qua hết tất cả những cái "Không", bạn sẽ tìm ra cái "Có" ở sâu bên trong gốc rễ của chính mình, và cái "Có" duy nhất đó, chính là linh hồn. Bạn chính là linh hồn! Những tên gọi khác của "linh hồn", như "cái tâm", "tâm thức", "tâm hồn", "tinh thần", "sự sống", "bản thể", "Phật tính", "Chúa tính", "Thiên tính" đều được chấp nhận.
Tôi cảm thấy vỡ oà khi hiểu được những điều tưởng chừng như mâu thuẫn này! Tuy nhiên, sau này đạo Phật, cụ thể hơn là Phật giáo Bắc Tông – Ở đây tôi không muốn dùng từ Tiểu thừa hay Đại thừa, mà tôi muốn gọi là Nguyên Thủy và Bắc Tông – Phật giáo Bắc Tông đã bổ sung vào trong Ngũ Uẩn: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Ở phần "Thức" họ đưa ra khái niệm về "Bát thức", tức là có đến tám cái Thức.
Và trong "Bát thức" có "A lại da thức". Đây là khái niệm khá giống với "linh hồn". Nó cũng tồn tại qua nhiều kiếp sống, mỗi kiếp sống lại "huân tập" những "chủng tử" thiện hoặc ác, vào trong "A lại da thức"
này. Tôi hơi nghi ngờ đây là do các tổ của Bà Là Môn muốn "cải tạo"
Đạo Phật nên đã thêm thắt vào các học thuyết này. Nhằm một lần nữa, đưa khái niệm "linh hồn" vào trong Đạo Phật.
Chuyện đó, thật hư thế nào không quan trọng. Chỉ cần Biết Chính Mình là được. Biết ta thực sự là ai, ta sẽ biết sự thật về vũ trụ này. Vậy, bạn đã biết mình thực sự là ai chưa?
Tôi là sự thành toàn (trọn vẹn), đến từ "Nguồn", từ cái "Một".
Bản chất của tôi là: Yêu thương, Sáng tạo, Ánh sáng, Niềm vui, Thuần khiết. Đó là năm đặc tính tôi cảm nhận được ở bản thể của chính mình.
Tốt lắm. Đó cũng chính là năm đặc tính của linh hồn.
Nhưng, khi tồn tại trên trái đất này, tâm trí của tôi đã tạo ra nhiều ảo ảnh, dẫn đến tôi có sự chia biệt, sự rối trí, và bắt đầu có những biến dạng.
Hãy chia sẻ tiếp. – Bờm động viên.
Trái đất là một nơi với tần số rung động hơi thấp, nên khi từ "Nguồn" thiêng liêng đến đây, ta đã quên mất mình thật sự là ai, quên đi "Nhà" thật sự của mình ở đâu. Ta giống như một đứa trẻ mải mê chơi đùa, đến khi trời tối thì quên mất đường về nhà, lạc lối, khóc lóc khổ sở vì không tìm thấy "Bố Mẹ" của mình. Vì nguồn năng lượng ở đây hơi "trược", chứ không "thanh", nên khi đến đây, ta rất dễ quên đi mọi sự. Cuộc hành trình của ta thực sự bắt đầu tại đây, đó cũng là cuộc hành trình vừa tìm lại chính mình, vừa sáng tạo chính mình.
Nhưng trên hành trình này, ta phải vượt qua cạm bẫy đến từ tâm trí.
Kitô giáo có câu chuyện về Adam và Eva. Khi nghe những câu chuyện như vậy, thay vì quan tâm nó có thật hay không, hãy tập trung nhiều hơn vào các biểu tượng và ý nghĩa của câu chuyện, từ đó rút ra bài học cho bản thân. Trong câu chuyện này có biểu tượng quả táo (trái cấm) – khi Adam và Eva ăn quả táo, họ bắt đầu thấy xấu hổ. Người này thấy người kia trần truồng không mảnh vải che thân, liền đỏ mặt, ngượng chín người. Vì khi đó, họ đã có tâm trí, tâm trí tạo ra sự chia biệt. Trước đó, họ là một, họ chỉ nhìn thấy điểm chung. Còn giờ đây, họ tập trung vào sự khác biệt nhiều hơn, và đó là sự khác biệt giữa đàn ông và đàn bà – tư duy nhị nguyên. Cơ thể đàn ông thế này, cơ thể đàn bà thế kia, có những yếu tố khác nhau, nên họ cảm thấy xấu hổ.
Sau đó, họ rời khỏi Vườn Địa Đàng, trở thành tổ tiên của loài người ngày nay. Loài người tiếp tục sinh sôi nảy nở, phát triển. Thế nhưng, càng ngày, tâm trí càng khiến con người có nhiều sự chia biệt hơn, nên họ phát sinh nhiều phán xét hơn, nhiều bạo lực hơn, nhiều mâu thuẫn hơn. Những trải nghiệm không mấy dễ chịu này ngày càng tạo ra những khuôn mẫu tính cách tiêu cực bên trong họ, đi ngược lại với năm đặc điểm thiêng liêng của linh hồn. Bây giờ, họ tham lam, hám danh, mê tiền, phản bội, lừa dối, bạo lực, chiến tranh, ruồng bỏ, trốn chạy, tiêu cực, tẩy chay, xua đuổi, bệnh tật... Tất cả những điều đó, đều là sự biến dạng. Con người ra đi từ "Nước Trời", họ giống như những Thiên Thần, nhưng họ đã quên mất mình là ai, những năm tháng sống ở trái đất khiến họ tạo ra nhiều biến dạng, những biến dạng so với các phẩm chất gốc của thiên thần, so với năm đặc tính thiêng liêng của linh hồn. Đó là sự biến dạng.
Thành Toàn vô cùng ngạc nhiên trước những điều mình vừa diễn đạt, anh tự thấy cách nói chuyện của mình cũng trở nên hơi giống với Bờm. Anh không còn phân biệt được mình và Bờm là hai người khác nhau. Cứ như cả hai tuy hai mà một, tuy một mà hai. Anh vừa là Bờm, vừa không phải là Bờm. Bờm vừa không phải là anh, vừa là chính anh.
Vào lúc này, như "phần thưởng" cho những kiến giải vừa rồi, Bờm cho Thành Toàn nhìn thấy nhìn ảnh thứ hai xuất hiện trong đầu mình.
Bạn có sự hiểu biết về các tôn giáo. – Bờm nhận xét.
Có lẽ đó là hệ quả của việc có những kiếp sống là nhà Sư.
Tốt thôi, và Tôn giáo không phải là Tâm linh.
Không phải ư?
Bờm liền giơ một bàn tay ra, năm ngón hơi khép lại, lòng bàn tay hướng thẳng đối diện với gương mặt Thành Toàn. Bờm hỏi: Đây, chính xác là bộ phận nào của bàn tay?
Đó là lòng bàn tay.
Sai!
Sai ư?
Đúng vậy, sai!
À ừm, thì đó là ngón tay.
Sai!
Đó là năm ngón tay.
Sai!
Năm ngón tay bao gồm ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa, ngón đeo nhẫn và ngón út.
Sai!
Đó là lòng bàn tay với năm ngón tay. Lần này chắc chắn phải trúng phóc!
Sai!
Tại sao lại vẫn sai?
Sai!
Tôi không hiểu?
Sai!
Thì đó là lòng bàn tay, rõ ràng đó là lòng bàn tay. Không thể sai được!
Đây là mu bàn tay. Và tất nhiên, nếu bạn muốn nói đầy đủ, thì là mu bàn tay và năm ngón tay.
Mu à? Sao lại là mu? – Thành Toàn bối rối.
Đây là mu bàn tay! – Bờm khẳng định.
Nhưng tại sao? – Thành Toàn gãi đầu gãi tai, dường như những phút giây "xuất thần" đã qua và bây giờ anh đang mang "trí não" của một–người–bình–thường.
Thì hãy thử đứng qua đây, nhìn ở vị trí của tôi.
Thành Toàn liền làm theo, và trong giây lát, anh cứng đờ cổ họng: Đây là... ừ thì... làcái MU bàn tay Đó là mu bàn tay!
Nhưng ở vị trí của tôi, đó là lòng bàn tay.
Đúng!
Lần này là đúng ư?
Đúng, "ở vị trí của bạn", ở góc nhìn của bạn.
Một ý tưởng loé lên trong đầu Thành Toàn: À, Bờm làm tôi nhớ đến câu chuyện "Thầy bói xem voi". Mỗi người chỉ nắm giữ được một phần của sự thật, nhưng lại nghĩ rằng mình có được toàn bộ sự thật.
Còn ở đây, bạn và tôi, trong trải nghiệm vừa rồi, mỗi người chỉ có được một góc nhìn về sự thật thôi, chứ không phải toàn bộ sự thật.
Ở góc nhìn của bạn, đó là lòng bàn tay, Ở góc nhìn của Bờm, đó là mu bàn tay. Cả hai chúng ta đều đúng – đúng với góc nhìn của mình.
Nhưng cả hai góc nhìn đó đều không phải là sự thật. Người ta gây chiến với nhau, vì họ luôn cho rằng góc nhìn của riêng họ chính là sự thật, họ chiến đấu vì niềm tin vào cái họ cho là đúng đắn ấy. Góc nhìn về sự thật thì không phải là sự thật. Cũng như, tôn giáo thì không phải là tâm linh.
Bờm vừa dứt lời, Thành Toàn liền nhìn thấy hình ảnh tiếp theo.
Tôn giáo là góc nhìn về sự thật? – Anh hỏi ngay lập tức.
Tôn giáo là góc nhìn về sự thật, và là sự diễn đạt bằng từ ngữ theo cách hiểu của mình, theo cách nói của mình, về góc nhìn ấy.
Chỉ có một sự thật nhưng có thể có rất nhiều góc nhìn về sự thật.
Vì thế, chân lý chỉ có một, nhưng có thể có rất nhiều tôn giáo.
Bờm giải thích.
Và cũng vì thế, các tôn giáo hay mâu thuẫn với nhau về từ ngữ, cách gọi, khái niệm, về phương pháp tu tập, về con đường đi, vì tất cả chúng đều là "góc nhìn". Nhưng tôn giáo lại thường nhất trí với nhau về đích đến, về mục đích cuối cùng?
Mỗi góc nhìn cũng là một con đường. Tất nhiên, vẫn có một số tôn giáo tốt. Từ góc nhìn của tôn giáo đó, nếu tinh tấn, hoặc nếu đủ niềm tin, cứ đi cho trọn vẹn con đường đó, hay pháp môn đó, thì ở cuối con đường rồi cũng sẽ ngộ ra được sự thật. Tuy nhiên, vẫn có những tôn giáo, những pháp môn, thay vì dẫn người ta đến với sự thật, thì con đường của họ lại dẫn các tín đồ xa rời sự thật, thay vì đi đến với tâm linh thì lại đi đến sự mê tín.
Tâm linh chính là sự thật?
Tâm linh là chân lý, là sự thật về chính mình và vũ trụ này.
Còn tôn giáo là hình chiếu của tâm linh. Tôn giáo là một góc nhìn về tâm linh. Và nếu đó là một tôn giáo tốt, nó sẽ dẫn người ta đi đến với sự thật, đi đến với tâm linh.
Và tôn giáo do con người tạo nên, nên nó có thể tốt đẹp, hoặc, cũng có thể "nguy hiểm"? – Thành Toàn muốn xoáy sâu hơn vào chủ đề này.
Tôn giáo do con người tạo ra. Nên, đôi khi, hoặc lắm khi, thay vì hướng con người đến với sự thật, thì nó lại phục vụ cho quyền lợi của nhóm người tạo ra nó. Chúa Jesus không phải là người sáng lập ra Kitô giáo, chính người đời sau làm điều đó. Phật Gautama không phải là người sáng lập ra các tông phái của đạo Phật, chính người đời sau làm điều đó. Vì, nếu còn quan tâm đến việc sáng lập ra một giáo phái, thì đó không phải là "Phật". Chính vì thế, có nhiều tôn giáo tốt, ta có sự tôn trọng và kính trọng các tôn giáo tốt. Và cũng có nhiều tôn giáo không tốt, do bàn tay của con người tạo ra, với ý định không thuần khiết, nên đã làm mất đi sự thuần khiết của tâm linh, sự thuần khiết của Đạo, sự thuần khiết của Pháp (Dhammar). Có thể hiểu Đạo là Pháp, và cũng là Tâm linh, là Sự thật, là Luật tự nhiên, là những Chân lý của vũ trụ.
"Phật Pháp" khác với "Phật Giáo". "Phật Giáo" là tôn giáo, còn "Phật Pháp" là thực hành theo "Pháp" của "Phật", và đó chính là tâm linh.
Vì sao, tôn giáo không phải là tâm linh, nhưng lại thu hút nhiều tín đồ đến như vậy?
Trước hết, vẫn có những tôn giáo tốt. Và, nhu cầu được giải thoát, khai sáng, giác ngộ, hay thoát khổ, hạnh phúc, là một nhu cầu của con người từ thuở mới xuất hiện trên địa cầu này đến nay. Đồng thời, tôn giáo có những "công cụ" riêng, để phát triển vô cùng nhanh chóng.
Những "công cụ" để "thao túng" các tín đồ, "thao túng" con người?
Nếu bạn muốn dùng từ đó.
Nếu không hiểu được những điều này, con người sẽ không thể nào trở thành con người của tự do, vì họ đã, đang và sẽ luôn chỉ là con người nô lệ. Không có tự do thật sự, sẽ không có hạnh phúc thật sự. Tất cả chỉ là cái lồng giam, tất cả chỉ là nhà tù, tất cả chỉ là ảo tưởng.
Thành Toàn cảm thấy lo lắng cho rất nhiều người mà mình quen biết, đã trở thành những tín đồ thay vì kính tín thì lại sùng tín và mê tín.
Có ba "công cụ" mà tôn giáo hay sử dụng, để khiến con người không thể trở thành con người của tự do, như cách mà bạn nói.
Thứ nhất, là sự sợ hãi.
Thứ hai, là cảm giác tội lỗi.
Thứ ba, là những nghi thức.
Xin Bờm hãy nói kĩ hơn về từng "công cụ" một.
Hãy nói về sự sợ hãi. Chúng ta sẽ làm gì khi bị sợ hãi?
Chúng ta sẽ tìm đến một ai đó, hay một tổ chức nào đó để bảo vệ ta, giúp ta thoát khỏi nỗi sợ, giúp ta bình an trở lại.
Khi đó chúng ta có sự độc lập hay phụ thuộc vào họ?
Chúng ta hoàn toàn phụ thuộc vào họ. Và họ sẽ có lợi ích từ điều đó.
Tôn giáo đã sử dụng nhiều "kỹ thuật" để tạo ra sự sợ hãi cho con người. Đầu tiên, là khái niệm Thiên đàng – Địa ngục. Đây là một phạm trù nhị nguyên.
Thiên đàng – Địa ngục không có thật?
Không phải nó không có thật, nhưng nó không có thật theo cách bạn hiểu, theo cách mà tôn giáo mô tả về nó.
Nghĩa là sao?
Đầu tiên, đây không phải là một nơi chốn cụ thể. Theo kiểu là: Trung tâm X ở số 369 đường Y thành phố Z. Thiên đàng – Địa ngục là một sản phẩm của tâm trí nhiều hơn. Thiên đàng – Địa ngục ở trong tâm của ta, chứ không phải là một nơi chốn vật lý bên ngoài. Khi chúng ta lầm lỗi, chính ta sẽ tự phán xét chính mình. Chính tâm của bạn tạo ra cái nhà tù, tạo ra Địa ngục để phán xử và tra tấn bản thân bạn. Khi bạn đọc kinh kệ của những tôn giáo ở vùng nóng, khô hạn, bạn sẽ thấy Thiên đàng mà họ mô tả là nơi có khí hậu rất mát, những dòng suối trong veo chảy qua, có khi còn có tuyết rơi. Còn khi bạn đọc kinh kệ của những tôn giáo ở xứ lạnh, Thiên đàng mà họ mô tả khá ấm áp, với nhiều loại trái cây nhiệt đới thơm ngon, chín mọng. Khi bạn đọc kinh kệ của những tôn giáo ở vùng đất còn nghèo, ta thấy Thiên đàng được mô tả với đầy rẫy kho báu, nơi nào cũng là vàng, đá quý, kim cương. Và, khi ta đọc kinh kệ của những tôn giáo quá khắc nghiệt, có nhiều sự cấm đoán với rượu, phụ nữ, thì đoán xem, Thiên đàng của họ là nơi có rất nhiều mỹ nữ tuyệt trần, nhảy múa hát ca vây quanh, những dòng sông thì toàn là rượu, đó là những dòng–sông–rượu, lại còn là loại thượng hảo hạng nhất trên đời! Không thể có nhiều Thiên đàng đến như vậy được. Chính xác hơn, Tâm Tưởng của con người đã thiết kế ra loại Thiên đàng phù hợp với họ!
Và nếu ai tin vào tôn giáo này, hay thực hiện những nghi thức của họ, thì sẽ được lên Thiên đàng. Nếu ai không tin, thì sẽ phải xuống Địa ngục. Người ta vì quá sợ hãi phải xuống Địa ngục, nên trở thành một "tín đồ" sùng tín, thậm chí mê tín, để mong mỏi được lên Thiên đàng. – Thành Toàn hiểu rất nhanh vấn đề.
Đó là cách mà một con người trở thành "nô lệ". Những người tạo ra, và vận hành tôn giáo, đã sử dụng lời của những bậc giác giả, vào mục đích có lợi cho họ, hơn là mục đích giúp nhân loại đi đến hạnh phúc đích thực, tự do đích thực, sự thật đích thực. Cũng có khi mục đích ban đầu của họ đơn thuần thuần khiết, nhưng sau đó lại bị biến tướng đi. Khi Jesus đã đi rồi, con người mới dựng nên Kitô giáo, và chia thành nhiều nhánh, có người đã nghiên cứu và cho biết hiện nay trên khắp thế giới có hơn 30. 000 nhánh phái khác nhau, mặc dù tất cả ban đầu chỉ là một, là trí tuệ và tình yêu thương mà chúa Jesus đã mang đến và rao giảng cho nhân loại. Khi Phật Thích Ca nhập Niết Bàn rồi, con người mới dựng thêm nhiều tông phái, chia năm xẻ bảy, với ba hệ phái lớn, là: Nguyên Thủy, Bắc Tông, và Mật Tông. Khi Khổng Tử qua đời rồi, thì các vua chúa mới dùng lời của Khổng Tử, học thuyết của ông, để làm cho xã hội dễ bề cai trị hơn, khi làm cho tất cả dân chúng đều tin vào những gì Nho giáo hướng dẫn, như "Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung. Phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu", hay phụ nữ phải "Tam tòng tứ đức", đó là sự cai trị chứ không phải giải phóng, là một dạng khác của "chế độ nô lệ", chứ không phải tự do. Sự thật phải giải phóng con người trở nên tự do, chứ không phải trói buộc con người trở thành nô lệ.
Tôi từng nghe một câu chuyện có thực, rằng ngày xưa Giáo Hội đã từng mắc một sai phạm rất nghiêm trọng, làm rung chuyển cả
Dừng lại một nhịp
Điều gì trong chương này đang chạm đến bạn? Hãy ngồi yên và để nó lắng xuống.