Tạ Minh Tuấn
CHƯƠNG III: HÃY TRỞ THÀNH VỊ THẦY. (tiếp 3)
là "Thượng Đế", vì từ đó tạo ra vạn vật. Và cũng vì lẽ đó, tất cả vạn vật đều được tạo ra như một phần của "Thượng Đế", của "Một", của "Nguồn", của "Chúa", của "Phật", nên vạn vật đều có bên trong mình "Thiên tính", "Phật tính", "Chúa tính", hay "Hạt giống của sự giác ngộ". Phật Thích Ca đã từng nói: "Trước ta đã có nhiều vị Phật. Sau ta cũng sẽ có nhiều vị Phật". Nên, bạn cũng có thể trở thành một vị Phật!
Tôi vừa có được những hiểu biết về lịch sử kiến tạo vũ trụ. Điều này thật quá xúc động! Nó khiến tôi nhận ra được mình có những tiềm năng to lớn đến nhường nào! Trước đây, tôi vẫn thường nói với đội ngũ của mình "Chúng ta là một", nhưng tôi cảm thấy bây giờ tôi mới thật sự hiểu câu nói đó. Chúng ta là "Một". Chúng ta đều từ "Một"
mà ra, và ta cũng chính là "Một", tôi và bạn, chúng ta đều ngang hàng với nhau, và đều là "Một", đều là một phần bản thể thiêng liêng của "Thượng đế". Thật xúc động khi cảm nhận được điều này! – Thành Toàn cảm thán.
Bạn vĩ đại hơn bạn tưởng. Không riêng gì bạn, tất cả chúng ta đều như vậy. Chính vì bên trong bạn có "Hạt giống của Thượng đế", nên bạn cũng chính là "Đấng sáng tạo" của chính mình. Bạn có thể sáng tạo ra Số phận của chính mình!
Nhưng, số phận là gì?
Số phận là chương trình tiến hóa của mỗi người. Có hai điều quan trọng ảnh hưởng đến số phận, đó là: Nghiệp và Tự do ý chí. Bạn sẽ hiểu về hai khái niệm này ở cuộc hành trình sau này của mình. Đừng vội!
Có phải tôi đã trải qua nhiều cấp độ tiến hóa, để bây giờ được làm người?
Đúng vậy, có năm cấp độ tiến hóa: 1. Khoáng sản 2. Thực vật 3. Động vật 4. Con người 5. Thiên thần Bên trong khoáng sản, thực vật, hay động vật đều có dòng chảy tâm thức mà lúc nãy bạn đã "ngộ" ra. Dòng chảy này trải qua nhiều đời nhiều kiếp và tiến hóa dần lên. Từ khoáng sản lên thực vật, từ thực vật lên động vật, từ động vật trở thành con người. Vì thế, bên trong đất đá, cỏ cây... đều có "hạt giống của Thượng Đế", hay linh hồn cả đấy, chẳng qua là linh hồn ở bậc tiến hóa thấp mà thôi.
Đã nghe chữ "linh hồn" rất nhiều lần, nhưng Thành Toàn vẫn chưa vội thắc mắc về nó. Anh muốn hỏi về một điều khác: "Thiên thần" ư?
Thiên thần là trạng thái gần với Phật, Chúa. Phật hay Chúa là trạng thái tiến hóa cao, còn Thiên thần cũng là trạng thái vô cùng quyền năng nhưng sẽ gần với cấp độ Con người hơn. Thiên thần không nên hiểu là những sinh vật có cánh, như bạn hay gặp trên phim ảnh.
Mà hãy hiểu rằng đó là trạng thái bên trong những con người đã trở nên khai sáng. Có một cách gọi khác, đó là "Bồ Tát". Cả "Bồ Tát" hay Thiên thần đều sẵn lòng giúp đỡ, hỗ trợ con người.
Trở nên khai sáng ư?
Trở nên khai sáng có nghĩa là không còn điều gì có thể quấy nhiễu được ta nữa.
Chắc hẳn đó là một trạng thái rất tuyệt vời.
Đó là trạng thái đã vượt qua được mọi "cạm bẫy" của tâm trí. – Bờm ung dung tiếp lời.
Cạm bẫy của tâm trí?
Tâm trí là một ảo ảnh, nó đánh lừa chúng ta. Khi quá trình chia tách diễn ra liên tục, "Một" trên "Thiên giới" tạo ra vạn vật dưới "Hạ giới". Đến khi con người được tạo ra, tâm trí cũng được tạo ra.
Nhưng ban đầu, tâm trí còn yếu, con người thuở đầu khá chất phác, hồn nhiên. Càng về sau, tâm trí ngày càng phát triển mạnh mẽ, và con người cũng ngày càng trở nên phức tạp, và "rối trí".
Có phải sự phân tách từ "Một" thành "Hai", và quá trình chia đôi tiếp diễn liên tục sau đó đã tạo ra tư duy nhị nguyên?
Thông minh lắm! Thế tư duy nhị nguyên là gì?
Đó là hai mặt của một vấn đề, là cặp phạm trù đối lập nhau, ví dụ như: đúng – sai, tốt – xấu, đàn ông – đàn bà, sáng – tối, giàu – nghèo, mập – ốm, cao – thấp, vui vẻ – buồn rầu, hạnh phúc – đau khổ, 0 và 1... Nó rất logic. Chúng ta thật ra đang sống trong một thế giới nhị nguyên.
Chỉ có một vấn đề với tư duy nhị nguyên, đó là nó tạo ra sự chia biệt. Đây là một sản phẩm của tâm trí. Tâm chia biệt sẽ gây ra đau khổ.
Tại sao vậy?
Chúng ta đã quên mất mình thực sự là ai. Tất cả chúng ta đều đến từ "Một". Tất cả chúng ta đều là "Một". Nhưng, một khi chúng ta bắt đầu sử dụng tâm trí để chia biệt lẫn nhau, nào là người da vàng thế này, người da đen thế nọ, người da trắng thế kia, chủng tộc nào thượng đẳng hơn, ai là chủ nhân, ai là nô lệ, đàn bà phải có nghĩa vụ thế nào với đàn ông, người miền Bắc thì có tính xấu gì, người miền Nam thì có khuyết điểm nào... Hãy thành thật đi, sự chia biệt đó có thực sự khiến ta hạnh phúc không?
Ở một cấp độ nông cạn nào đó thì ta cần phân biệt nhưng khi đi đến tận cùng thì không, chúng ta đều là những bản thể thuần khiết và thiêng liêng. Cái tâm chia biệt sẽ gây ra rắc rối và đau khổ cho chúng ta!
Đúng thế, đó cũng là lịch sử của nhân loại. Khi tâm trí vận hành, tâm chia biệt đã tạo ra các cuộc chiến tranh giết hại biết bao nhiêu con người. WAR (chiến tranh) là gì, đó là viết tắt của "We Are Right". Ai cũng cho là mình đúng. Vì họ chỉ sử dụng tâm trí chứ không sử dụng được trái tim. Ý thức hệ khác nhau dẫn đến chiến tranh về chính trị, hoặc chiến tranh giữa các quốc gia. Niềm tin khác nhau dẫn đến chiến tranh về tôn giáo, cũng đã giết hại hàng triệu người. Xác chết chất chồng lên thành ngọn núi cao đếm không xuể! Chúng ta gây chiến vì chúng ta muốn bảo vệ niềm tin mà mình cho là đúng đắn – We Fight For What Is Right – Nhưng cái được cho là đúng đắn thì rất khác nhau giữa nhóm người này và nhóm người kia. Nên lịch sử loài người chưa bao giờ thiếu vắng chiến tranh. Đó là kết quả của cái tâm chia biệt. Người ta thường nghĩ rằng họ thuộc về một nhóm, và để cảm thấy an tâm, thoải mái, họ cần biết rằng nhóm mà họ thuộc về ưu việt hơn những nhóm còn lại. Tâm chia biệt tạo ra nhiều sự phán xét, chia rẽ, nó còn có thể kích động những hành động bạo lực. Vào lúc đầu, ta vẫn cần tâm chia biệt, để phân biệt điều này và điều kia. Nhưng khi đi xa hơn nữa, tâm chia biệt sẽ gây cản trở cho sự trưởng thành thực sự bên trong nội tâm của ta. Tâm trí cũng vậy. Tâm trí rất ma mãnh. Nó thích "gaming", nó khiến ta hành động không phải từ tình yêu thương đích thực, nó làm cho cuộc đời này trở nên phức tạp hơn, nguy hiểm hơn, nhiều nỗi sợ hơn. Quá tâm trí, quá logic, thật ra lại là một rào cản trên con đường tiến hóa tâm linh. Vì đây là con đường ta cần sử dụng Trực giác nhiều hơn là Lý trí, ta cần sử dụng Trái tim nhiều hơn là Khối óc. Nên, những người giữ được tâm mình có sự ngây thơ, thuần khiết như The Fool, như trẻ thơ, lại dễ giác ngộ hơn đấy. Hoặc, khi giác ngộ rồi, ta sẽ có tâm thế như vậy, thiên về trẻ thơ, thiên về giá trị chất phác, hồn nhiên. Ta phải luôn quan sát được khi nào hành động của mình chỉ là trò chơi của tâm trí, còn khi nào ta hành động dựa trên tình yêu thương đích thực. Thiên thần đã vượt qua ảo ảnh của tâm trí.
Vì không còn bị ảnh hưởng bởi tâm trí, những vị Bồ Tát, hay Thiên Thần, đều thoát ra khỏi tư duy nhị nguyên, trở về với "Nhất Thể", không còn có sự chia biệt, mà cưỡi trên những con sóng nhị nguyên để hợp nhất với "Nguồn".
Và, tâm trí không phải là hoàn toàn vô dụng, phải không?
Tâm trí giống như vỏ trứng vậy, nó bảo vệ ta khi ta còn yếu, nhưng khi đã sẵn sàng để trưởng thành hơn, để học những bài học cao hơn, để tiến hóa hơn, ta cần phá vỡ vỏ trứng đó chui ra ngoài, khi đó tâm trí không còn cần thiết nữa. Tâm trí đã tạo ra những công nghệ tuyệt vời, sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật, mang lại lợi ích cho cuộc sống con người. Tuy nhiên, nếu nhân loại để cho tâm năng của mình hoàn toàn thiên về cơ giới, thiên về vật chất, mà quên đi sức mạnh của tinh thần, nhân loại nhất định sẽ đi đến chỗ diệt vong, như nhiều lần diệt vong trước đây. Chủng người hiện nay của bạn không phải là chủng người có mặt lần đầu trên trái đất. Lịch sử thường hay lập lại.
Ai có được những trí tuệ này, người đó sẽ được khai sáng và trở thành niềm hy vọng mới. Các bạn được trao cho một cơ hội mới, hãy làm tốt ở lần này. Như vậy, tâm trí mang đến khả năng tồn tại và sự thuận tiện lúc đầu, nhưng cũng đưa ta đến sự diệt vong cuối cùng. Vì thế, khi đã sẵn sàng, ta cần học cách "chọc thủng" bức màn vô minh của tâm trí, để đi sâu hơn vào bản thể thiêng liêng, vào linh hồn của ta.
Bờm đã nói rất nhiều về linh hồn. Qua kinh nghiệm cá nhân của mình, tôi cũng nhận thấy mình chính là linh hồn, là một dòng chảy năng lượng đã đi qua rất nhiều kiếp sống. Tôi có mặt trên trái đất này là vì một mục đích nào đó. Tôi vẫn chưa thực sự hiểu được mục đích này. Tôi cảm nhận đây là những trí tuệ tâm linh rất cấp tiến và đúng đắn. Nhưng, tại sao Đạo Phật lại không thừa nhận linh hồn?
Rất tốt, bạn đã hỏi một câu hỏi cần thiết đấy. Đầu tiên, hãy làm giúp Bờm một điều, bạn hãy xem lại toàn bộ kinh kệ của Phật giáo, và tìm xem ở đâu, nguyên văn chỗ nào, lời của Đức Phật phủ nhận linh hồn? Hãy lưu tâm, tìm nguyên văn lời của Đức Phật nói rằng "Linh hồn không có", chứ không phải là sự diễn dịch theo cách hiểu của những đệ tử đời sau.
Tôi không thể.
Bạn không thể?
Vâng, tôi có nghiên cứu về đạo Phật, và tôi cũng có những kiếp sống là nhà Sư, vừa rồi, tôi đã đánh thức khả năng Nhớ Lại của mình, tôi đã nhớ được một số ký ức của những kiếp sống trước, bao gồm cả sự hiểu biết của mình. Tôi biết rằng, mỗi lần được hỏi về linh hồn, Đức Phật luôn từ chối trả lời.
Theo bạn, Đức Phật có phải là một người có phong cách bí ẩn không?
Không hề, các vị thầy khác tỏ ra bí ẩn. Đức Phật thì không, không có vị thầy nào rõ ràng hơn ông ấy. Tất cả những Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, đều vô cùng rõ ràng, chẳng có gì bí ẩn cả.
Là một người rõ ràng, như vậy, nếu như linh hồn không có, để tránh gây ngộ nhận, ông ấy sẽ nói với chúng đệ tử một cách rất thẳng thắn, rằng: "Linh hồn không có".
Tôi tin rằng như vậy. Khi Đức Phật được hỏi ngài có thần thông hay không, ông cũng trả lời không hề quanh co, không hề bí ẩn chút nào, là có, ông có thần thông. Tất nhiên, ông không hướng chúng đệ tử tập trung vào thần thông. Vì thần thông dễ sinh ra ngã mạn, như thế càng Tu càng tăng cái Tôi, và xa rời với sự giác ngộ thực sự.
Chúng ta chỉ cần tập trung vào các kinh Nguyên Thủy thôi cũng được, thì cũng không có chỗ nào Đức Phật nói rõ rằng không có linh hồn, đúng không?
Đúng vậy, Đạo Phật Nguyên Thủy chỉ chấp nhận khái niệm về "dòng chảy tâm thức", qua đó vẫn thừa nhận có một dòng chảy như vậy chảy từ đời này qua kiếp khác, chứ không gọi đó là "linh hồn".
Khi sống, ta không tránh khỏi việc tạo ra những phản ứng của tâm một cách vô thức, những phản ứng này tạo ra những "Samskara"
(Hành – Hành động của tâm), một loại "Nghiệp". Chúng ta không thể giải thoát được là vì còn "tồn kho Samskara", nên phải tu tập để giải phóng tồn kho này. Khi nào tồn kho về Không, chúng ta sẽ được giải thoát, không còn phải luân hồi và tái sinh nữa. Khi nào vẫn còn "Samskara", ta vẫn phải tái sinh, sống kiếp này chỉ để trả "nghiệp"
cho kiếp trước, mà kiếp này lại tạo thêm "nghiệp" cho kiếp sau. Nên "Samskara" này không hết đi. Đến cuối đời, một "Samskara" hung hãn nhất, nguy hiểm nhất, sẽ trồi lên, và trở thành "Nhân" cho sự tái sinh, ảnh hưởng đến toàn bộ kiếp sống sau cùng của ta.
Các "Samskara" này giống như thức ăn của tâm, nó tiếp thêm thức ăn và duy trì dòng chảy tâm thức. Nên dòng chảy vẫn tiếp tục chảy qua kiếp sau, ta vẫn còn bị trói buộc. Vì thế, bí quyết tu tập của trường phái Nguyên Thủy là không tiếp thêm thức ăn cho tâm. Giống như cơ thể khi không được nạp thêm thức ăn, lúc ấy cơ thể sẽ sử dụng năng lượng dự trữ bên trong, ở các phần mỡ chẳng hạn, cho đến khi phần năng lượng dự trữ này cũng hết đi, thì cơ thể mới chết. Ở đây cũng vậy, ta không tiếp thêm thức ăn cho dòng chảy tâm thức, dần dần dòng chảy này sẽ dừng lại, ta sẽ không còn phải tái sinh, không còn phải quay lại luân hồi, và chính thức giải thoát. Cách để không tiếp thêm thức ăn cho dòng chảy tâm thức là ta không phản ứng một cách vô thức. Cách để không phản ứng một cách vô thức là luôn có ý thức. Cách để luôn có ý thức là luôn sống chánh niệm, luôn sống tỉnh thức. Thiền là một cách. Và điều quan trọng là không chỉ tỉnh thức khi thiền, mà còn tỉnh thức trong đời sống hằng ngày. Nên mới có thêm pháp môn tu tập là thiền hành – tức là thiền khi đi bộ, những bước chân tỉnh thức, những bước chân chánh niệm. Chánh niệm có thể hiểu là luôn sống trong hiện tại. Khi đó ta sẽ không phản ứng một cách vô thức để tạo ra thêm "Samskara", mà ta luôn có ý thức trong từng khoảnh khắc. Ta lựa chọn không tiếp tục phản ứng, không tiếp tục sản sinh thêm "nghiệp". Đó là con đường giải thoát – Thánh Đạo của Phật giáo Nguyên Thủy. Nên, Định sinh thần thông, còn Niệm (chánh niệm) mới đưa đến bờ giải thoát. Vì thế, "Chánh niệm mới là vua của tu tập".
Có nhiều kiếp bạn đã là nhà Sư, và đã tu tập theo pháp môn đó.
Vậy thì, vì sao Đức Phật không nói là "Linh hồn không có", khi ông là người theo tôn chỉ luôn luôn rõ ràng?
Đạo Phật chỉ thừa nhận con người cấu thành từ Ngũ Uẩn đó là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Sắc thuộc về Thân. Còn Thọ, Tưởng, Hành, Thức thuộc về Tâm. Đức Phật chưa bao giờ nói rằng "Không có linh hồn", nhưng ông cũng không nói rằng "Có linh hồn".
Vậy, nếu không có linh hồn. Phật sẽ nói là "Không có linh hồn", đúng không?
Đúng vậy, Bờm à.
Vậy vì sao ông không nói rằng "Có linh hồn".
Tôi không biết.
Vì, điều đó có nói ra cũng không có ích gì trong bối cảnh lúc đó của Ấn Độ.
Tại sao lại như vậy?
Vì khi đó, Bà La Môn hoạt động rất mạnh tại Ấn Độ, con người đã quá lạm dụng khái niệm "Linh hồn", họ bám víu vào khái niệm đó một cách thái quá, nên càng phát sinh sự dính mắc. Vì thế, Đức Phật xuất hiện, và ngài không muốn tập trung phương pháp của mình vào khái niệm "Linh hồn". Chủ trương của ngài là "Buông bỏ".
Nhưng, điều đó không có nghĩa là không có linh hồn. Vì nếu không có, Đức Phật đã phủ nhận ngay là không có.
...
Các bậc giác giả khi đến với thế giới này sẽ tùy vào bối cảnh khi đó nhân loại đang cực đoan về thái cực nào, đang cần nhất cái gì, đang thiếu nhất điều gì, mà điều chỉnh ngôn từ và thuyết pháp một cách phù hợp nhất. Lúc đó, Ấn Độ không còn cần nghe thuyết thêm về linh hồn.
Họ cần những gì thực tiễn, có thể hành động ngay. Bạn có thể thấy, Đạo Phật là tôn giáo của hành động, đó là tôn giáo rất thực tế, thực tiễn. Lấy ví dụ, một người bị một mũi tên cắm vào vai thì người đó có đau không, có khổ không?
Có chứ, đau lắm, khổ lắm!
Vậy thì việc cần làm lúc đó là gì, có cần tìm hiểu nguồn gốc mũi tên đó đến từ đâu, nó làm bằng chất liệu gì, được sản xuất tại đâu, ai là người đã tạo ra nó? Vào ngay lúc đó, ta có làm những điều đó không?
Không đời nào! Việc đó chưa cần thiết!
Phải đấy, thế ngay lúc đó, việc cần làm là gì?
Là làm sao để rút mũi tên ra, chăm sóc vết thương một cách an toàn, giúp nó hồi phục, để không còn đau và khổ nữa!
Phải đấy, Phật Giáo Nguyên Thủy có ý nghĩa như thế đấy. Nên khi đó, Đức Phật không cần dạy thêm những điều nào khác, cái Đạo mà ngài muốn truyền bá là "Đạo Diệt Khổ", là những hành động rất cụ thể trong Bát Chánh Đạo, để thoát khổ.
Thì ra là vậy, tôi hiểu rồi, Bờm à.
Có 14 câu hỏi mà Phật không bao giờ trả lời. Khi được hỏi những câu đó, ngài không phủ nhận chúng, mà chỉ từ chối trả lời. Vì sao vậy?
Vì không phải chúng không tồn tại. Nhưng ngài muốn đệ tử của mình thay vì quan tâm đến những yếu tố siêu hình, thì hãy tập trung "Nhổ mũi tên ra, chăm sóc cho cái khổ của mình, làm cho nó lành lặn, bớt đau, bớt khổ". Còn các câu hỏi đó, tốt nhất, hãy để các đệ tử tự Trải nghiệm và tự Chứng ngộ được nó.
Chính xác! Điều đó rất phù hợp với bối cảnh lúc ấy. Nhưng,
Dừng lại một nhịp
Điều gì trong chương này đang chạm đến bạn? Hãy ngồi yên và để nó lắng xuống.